Monday, July 13, 2009

Đại Hội Hội Ngộ “Nhớ Về Xuân Lộc”

THÔNG BÁO

Kính gửi: Quý Niên Trưởng
Quý Chiến Hữu SĐ18BB trên thế giới

Gia Đình 18 Úc Châu trân trọng kính mời quý niên trưởng và các chiến hữu 18 đến tham dự Đại Hội Hội Ngộ “Nhớ Về Xuân Lộc” được tổ chức vào ngày Thứ Sáu, 7 tháng 8 năm 2009 tại Sydney, Úc Châu.

Chương Trình:

1. Dạ tiệc “Nhớ Về Xuân Lộc” để yểm trợ TPB18 còn kẹt lại ở quê nhà chiều ngày 7 tháng 8 năm 2009, vào lúc 7 giờ tối tại:

Crystal Palace
Canley Vale Road
Canley Vale, NSW 2166

Trong buổi dạ tiệc sẽ ra mắt sách và CD Audio Hồi Ký “Một Thời Binh Lửa” của Bảo Định Nguyễn Hữu Chế và các sản phẩm của các chiến hữu 18 khác nếu có.


2. Buổi nói chuyện của Thiếu tướng Lê Minh Đảo và cựu Tiểu Đoàn Trưỏng TĐ2/43 Bảo Định Nguyễn Hữu Chế (đơn vị cuối cùng rời khỏi Xuân Lộc) và từ Úc Châu: NT Trần văn Quản, Đỗ Trung Chu thuyết trinh.từ 2:00 gi ờ đến 5:00 giờ chiều, ngày 8 tháng 8 năm 2009 tại:

Trung Tâm Sinh Hoạt Cộng Đồng
Bibbys Road
Bonnyrigg, NSW


TM. Ban Tổ Chức
Hoàng Lập Chí
TĐ1/48/SĐ18BB
E-mail: lchihoang@yahoo.com.au
Cell: 0425 884484 & 0419 211 659

Trích website:
http://www.sudoan18bobinh.com/#/hoi-ngo-uc/4534348823

CUỘC CHIẾN ĐẤU CUỐI CÙNG Ở XUÂN LỘC của Phạm Phong Dinh

THIẾU TƯỚNG LÊ MINH ĐẢO VÀ SƯ ĐOÀN 18 BỘ BINH:
CUỘC CHIẾN ĐẤU CUỐI CÙNG Ở XUÂN LỘC
Phạm Phong Dinh
(Trích trong Thiên Hùng Ca Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa)

Ba mươi năm, kể từ ngày 30.4.1975, Việt Nam Cộng Hòa ngừng tồn tại, những người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bị buộc phải buông súng một cách ngỡ ngàng, phải đi vào những trại tù của phía được gọi là “chiến thắng” một cách uất hận. Kể từ cái khoảnh khắc đau thương đó, cho mãi đến tận hơn một phần tư thế kỷ sau, những nhà viết sử cộng sản vẫn ra rả lăng mạ và sĩ nhục những người lính tạm gọi là “bại trận” của QLVNCH, bằng tất cả những phương tiện ma øcó thể giúp họ phun nọc đầu độc thế hệ thanh thiếu niên Việt Nam sau chiến tranh. Truyền thông, sách báo, nhà văn (văn nô “phản kháng” lẫn “phản tỉnh”), là những công cụ cực tốt để làm cái loa tuyên truyền, bôi nhọ và bóp méo lịch sử. Cộng vào đó, phải kể đến một khối lượng cực nhiều sách báo của thế giới phương Tây, qua lăng kính và tài liệu của khối cộng, thân cộng, thiên cộng, phản chiến và trở cờ, cũng tàn nhẫn tham gia vào cái trò chơi nhục mạ một quân đội bị bức tử một cách oan ức. Là Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Quân lực ấy, và những người lính ấy chỉ có mỗi một lỗi lầm duy nhất, là đã dám anh dũng đương đầu với hai thế lực cực lớn để bảo vệ một nửa nước Việt Nam, mà đã bị hai thế lực ấy chia cắt ngày 20.7.1954 tại hội nghị Geneva. Sau ba mươi năm, người ta đã thấy rõ ràng, là Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa phải nỗ lực chống trả đại khối cộng sản quốc tế mười ba nước, trong đó cộng sản và quân đội Bắc Việt được dùng làm những tên lính tiền phong xung sát, thực hiện sách lược “Dùng người Việt giết người Việt” của đại khối ấy. Trong ròng rã hơn hai mươi năm, từ năm 1954 đến năm 1975, những người lính quá đỗi khổ ải của chúng ta không những đem xương máu ngăn chống những cơn sóng bão lửa của chiến tranh ngoài tiền tuyến, mà còn phải đau đớn hứng chịu những nhát đâm chí mạng từ phía sau lưng từ phía những người gọi là bạn và bọn nội thù thân cộng, phản chiến và theo cộng. Rồi khi đã gục ngã một cách không mong muốn, thì những bầy quạ đen, những con kên kên từ khắp mọi nẽo đường thế giới xúm nhau vào làm cái việc an táng cuối cùng quân lực một thời kiêu hùng ấy. Bằng những cái mỏ khoằm khoằm, từ đó vang vọng những lời lăng mạ thật kinh tởm. Và bằng những cái móng vuốt nhọn bén như dao, muốn chôn vùi những chiến tích lừng lẫy của những người lính chúng ta vĩnh viễn vào quá khứ . Nhưng có phải là người lính Việt Nam Cộng Hòa đã thực chết hay không? Và những người gọi là “chiến thắng”, dành quyền sĩ nhục người bại trận, có phải thực sự chiến thắng hay không?

Cộng sản Hà Nội nên nhớ lại cơn ác mộng chiến bại Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 và cuộc không tập mười hai ngày đêm trên lãnh thổ Bắc Việt trong mùa Giáng Sinh cuối năm ấy. Ngày cuối cùng cộng quân chỉ còn đúng sáu chiếc hỏa tiễn Sam, lãnh đạo Hà Nội với những anh Ba anh Tư, và những ông tướng huyền thoại đang chuẩn bị trói mình đầu hàng vô điều kiện. Thì người ta đã dễ dàng dành cho họ một con đường sống bằng Hiệp Định Paris ký với nhau ngày 27.1.1973. Như vậy, chỉ trong vòng có mười hai ngày thôi, quân đội Hoa Kỳ đã có thể nhanh chóng tống táng chế độ cộng sản cùng hung cực ác Hà Nội xuống tận đáy địa ngục nếu muốn. Thì có vinh dự gì mà bọn cộng sản Bắc Việt còn có can đảm vỗ ngực chiến thắng và nguyền rủa những người lính Việt Nam Cộng Hòa kém may mắn. Cái “chiến thắng” mà chúng cứ ra rả ngày đêm chưa thấy mỏi mệt, thực chất chỉ là một màn trình diễn của những con người chiến bại tinh thần, luôn luôn cảm thấy xấu hổ và mặc cảm thua kém mọi bề từ tận đáy thâm tâm của họ. Nhưng dù sao thì sau ba mươi năm, gió cũng đã đổi chiều. Bên cạnh hàng ngàn cuốn sách mà chúng ta vừa nhắc đến ở trên, đã xuất hiện ngày càng nhiều những cuốn sách mới được viết từ những sử gia Tây phương, với cái nhìn vô tư hơn và ít thiên kiến hơn để thẩm định lại những sự thực lịch sử trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Nhờ vào những tài liệu khổng lồ đã được giải mật trong các văn khố của Hoa Kỳ, cũng như của Nga, mà trước năm 1990 là Liên Xô, những nhà viết sử đã được đi thẳng, hay nói thật đúng là đã bới móc sâu vào tận cùng những bí mật hiểm hóc nhất, để trưng ra cho công luận thế giới những khía cạnh đứng đắn nhất của lịch sử. Những sử gia Hoa Kỳ, mà trong những thập niên trước đây đã cho ấn hành những cuốn sách đầy dẫy thiên kiến, lệch lạc, chưa nói đến sự ấu trĩ. Có lẽ là vì lúc đó người ta cần phải bào chữa cho những điều mà chính phủ của họ đã theo đuổi. Hoặc biện hộ cho sự nhượng bộ khối cộng. Hay tàn nhẫn hơn, trút mọi lỗi lầm và sự hèn nhát của họ vào một đối tượng tế thần là nước Việt Nam Cộng Hòa. Nhưng dần dần rồi cũng có những sử gia có lương tâm và tỉnh táo hơn, đã tận tụy tìm kiếm tài liệu từ cả hai phía, đã phân tích và gạt ra ngoài những định kiến, chỉ chắt lọc những dữ kiện. Từ những dữ kiện đó, chúng đủ nói lên được nhiều điều chưa từng được nói.

Từ những ký ức đau buồn của một lần gọi là bại trận của một người lính, từ những hoài cảm về những trang chiến sử chói lọi của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, chúng tôi đã may mắn nhận được vài chục trang biên khảo của sử gia Hoa Kỳ, ông George Jay Veith viết về Sư Đoàn 18 Bộ Binh và Thiếu Tướng Lê Minh Đảo, Tư Lệnh Sư Đoàn trong cuộc chiến đấu cuối cùng tháng 4.1975 mà ông đã đặt tựa là “Fighting is an Art: The ARVN Defense of Xuan Loc, April 9- 21, 1975” (Chiến Đấu Là Một Nghệ Thuật: Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa Phòng Thủ Xuân Lộc, từ 9 - 21.4.1975). Sử gia Jay Veith đã không gặp phải khó khăn lắm trong vấn đề nghiên cứu các tài liệu viết bằng tiếng Việt từ hai phía, vì nhờ có một sử gia Hoa Kỳ cộng tác, ông Merla L. Pribbenow, rất thông thạo Việt ngữ. Ông Pribbenow là một nhân viên Tòa Đại sứ Hoa Kỳ từ năm 1970 đến năm 1975, từng dịch sang Anh ngữ nhiều tài liệu và sách Việt ngữ viết về chiến tranh Việt Nam. Trong thư mục tham khảo nguồn tài liệu hay trực tiếp phỏng vấn phía Việt Nam Cộng Hòa, chúng tôi ghi nhận các tác giả: Đại Tướng Cao Văn Viên, Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn, Thiếu Tướng Lê Minh Đảo, Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi, Đại Tá Hứa Yến Lến, Phạm Huấn, Hồ Đinh, Nguyễn Đức Phương và Phạm Phong Dinh. Về phía nguồn tài liệu Bắc Việt, hầu hết các nhân vật cao cấp từng viết sách về chiến tranh Việt Nam như Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng, Trần Văn Trà, Hoàng Cầm, Đào Đình Luyện, Nam Hà, v.v...

Trong bài biên khảo khá dài này, sử gia Jay Veith đã diễn tả lại rất tỉ mỉ những chuẩn bị chiến tranh từ hai phía. Một bên là Quân Đoàn 4 Cộng Sản Bắc Việt, với các Sư Đoàn 6, 7 và 341 dưới quyền chỉ huy của Thiếu Tướng Hoàng Cầm, một danh tướng của cộng quân, với sự giám sát và hỗ trợ của Tướng Trần Văn Trà, Tư Lệnh Lực Lượng Quân Giải Phóng Miền Nam, thuộc Trung Ương Cục Miền Nam. Cấp cao hơn nữa là Bộ Tư Lệnh Chiến Dịch Nguyễn Huệ (trong tháng 4.1975 đổi thành chiến dịch Hồ Chí Minh) do Tướng Văn Tiến Dũng chỉ huy. Rồi cao hơn hết là Bộ Chính Trị tại Hà Nội do “anh Ba” Lê Duẫn chỉ đạo nghệ thuật. Một bên là Sư Đoàn 18 Bộ Binh thiếu thốn quân số vì những trận đánh liên miên từ đầu năm 1975, với Thiếu Tướng Tư Lệnh Lê Minh Đảo cùng các đơn vị tăng phái như Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù của Đại Tá Nguyễn Văn Đỉnh; Địa Phương Quân và Nghĩa Quân Long Khánh dưới quyền của Đại Tá Tỉnh Trưởng Phạm Văn Phúc, Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân của Thiếu Tá Vương Mộng Long mới vừa từ tỉnh Quảng Đức băng rừng về đến. Cấp chỉ huy trực tiếp của Thiếu Tướng Đảo là Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư Lệnh Quân Đoàn III & Quân Khu III, sau khi đồng ý trả Trung Đoàn 48 của Trung Tá Tá Trần Minh Công từ Tây Ninh về cho Sư Đoàn 18 Bộ Binh, thì ông đã phải rất bận rộn với những điều động và bố trí khác, đã mặc nhiên giao phó mặt trận Long Khánh cho Thiếu Tướng Đảo. Cấp chỉ huy cao hơn nữa là Bộ Tổng Tham Mưu thì cũng đang bù đầu tái tổ chức các đơn vị di tản từ Quân Khu I và Quân Khu II về. Vị Tổng Tư Lệnh Tối Cao QLVNCH là Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cũng chẳng ra một lệnh cần thiết nào cho Thiếu Tướng Đảo.

Như vậy, ở cương vị Tư Lệnh Sư Đoàn, Thiếu Tướng Đảo đã gánh vác sức nặng của cuộc chiến cuối cùng, đương đầu với một quân đoàn hùng hổ quân cộng cùng một hệ thống chỉ huy chằng chịt và hung hãn. Thiếu Tướng Đảo đã nói với ông Jay Veith: ”Tướng Toàn đang rất bận rộn tổ chức phòng thủ Sài Gòn, trông cậy tôi lo liệu chuyện Sư Đoàn 18 Bộ Binh và khu vực trách nhiệm. Tôi không nhận được lệnh nào từ Tổng Thống Thiệu và Bộ Tổng Tham Mưu trong việc phòng thủ Xuân Lộc. Đối với tôi thì chuyện này cũng dễ hiểu, vì tính linh động mềm dẽo của QLVNCH, trong khi phía cộng sản, không một cá nhân nào có thể thực hiện mọi quyết định tự ý được”. Điều mà Jay Veith muốn nhấn mạnh ở đây là nghệ thuật phối trí và chỉ huy chiến trận của cả hai phía. Một phía là những tập hợp gọi là “đỉnh cao của trí tuệ”. Còn một phía, chỉ duy nhất một danh tướng của VNCH là Thiếu Tướng Lê Minh Đảo. Một cuộc đọ sức đọ trí giữa các cấp chỉ huy cộng quân và cấp chỉ huy một sư đoàn QLVNCH trong vòng mười hai ngày đêm, mà chiến thắng vang dội của phía số ít đã làm rúng động thế giới và làm cho các quân đoàn cộng quân phải xáo trộn, Tướng Hoàng Cầm bị thay thế bằng chính Tướng Tư Lệnh Quân Giải Phóng Miền Nam Trần Văn Trà. Rồi Trần Văn Trà cũng chẳng làm nên được cơm cháo gì, buộc phải rời bỏ chiến trường Xuân Lộc đi vòng xuống Biên Hòa tiến đánh Sài gòn. Như vậy có vinh quang gì không, khi tướng lãnh cộng sản viết sách ngợi ca chiến thắng (giả tạo và được người Mỹ ban tặng).

Trong những ngày Quân Đoàn I và Quân Đoàn II di tản về miền duyên hải và cố gắng tìm về khu vực Quân Khu III, thì các Sư Đoàn 5, 18 và 25 của Quân Đoàn III đã có những trận đánh với cộng quân và chịu nhiều thiệt hại. Nhưng những trận đánh này đã rất mờ nhạt trong những tin tức chiến sự hàng ngày, vì hậu phương và giới truyền thông báo chí đang chú tâm theo dõi cuộc di tản của quân dân từ miền cao nguyên và miền Trung vào. Cho nên khi mặt trận Long Khánh nổ lớn tại thành phố Xuân Lộc, thì người ta mới lại chú ý đến Sư Đoàn 18 Bộ Binh. Người ta không được biết rằng, quân số của sư đoàn đã sụt xuống mức báo động. Nhiều tiểu đoàn quân số 450 người, khi trận Xuân Lộc bắt đầu, chỉ có không quá 350 chiến binh. Một tiểu đoàn gồm bốn đại đội, mỗi đại đội quân số đầy đủ phải trên 150 người. Giờ đây mỗi đại đội chỉ có không quá 100 chiến binh, nhưng phải cáng cáng công việc gấp rưỡi. Có nghĩa là người lính QLVNCH phải đổ máu xương gấp rưỡi để giữ vững Xuân Lộc. Nếu diễn tả lại diễn tiến trận đánh kéo dài từ những ngày Sư Đoàn 18 Bộ Binh giao chiến với các Sư Đoàn 6 và 7 BV trong lãnh thổ tỉnh Long Khánh cho đến ngày nổ ra trận Xuân Lộc từ ngày 9.4.1975 thì có lẽ phải cần một cuốn sách dày vài trăm trang. Chúng tôi chỉ xin được lược diễn lại những giai đoạn quan trọng nhất và xin được chú trọng vào những diễn biến nổi bật, cũng như những con người và những yếu tố làm nên thành chiến thắng Xuân Lộc.

Cấp chỉ huy chiến trường của quân cộng

Để biết Thiếu Tướng Lê Minh Đảo, Tư Lệnh Sư Đoàn 18 Bộ Binh đã đánh cho bọn tướng tá Hà Nội thua xiểng liểng đến như thế nào, chúng ta hãy cùng điểm một vài khuôn mặt cấp chỉ huy của địch quân trực tiếp hay gián tiếp trong trận đánh Xuân Lộc. Người chịu trách nhiệm mặt trận Long Khánh là Thiếu Tướng Hoàng Cầm. Tướng Cầm, bí danh Nam Thạch, từng tham dự trận Điện Biên Phủ năm 1954, lúc đó ông làm Tiểu Đoàn Trưởng, trực thuộc trung đoàn mà đã xông vào trung tâm và bắt sống được tướng Tư Lệnh De Castries. Trong cuộc chiến tranh Việt Nam, Tướng Cầm làm Tư Lệnh Sư Đoàn 312 nổi tiếng thiện chiến, rồi được điều làm Tư Lệnh Sư Đoàn 9 Bắc Việt, khi sư đoàn này thành lập ngày 2.9.1965. Trong mùa hè 1973, Tướng Cầm được đề bạt lên làm Tham Mưu Trưởng Trung Ương Cục Miền Nam, và chức vụ cuối cùng là Tư Lệnh Quân Đoàn 4 cộng sản BV nhận lệnh tấn công Xuân Lộc để mở toang cánh cửa tiến xuống Sài Gòn. Quân Đoàn 4 của Tướng Hoàng Cầm gồm các Sư Đoàn 6, 7 và 341.

Sư Đoàn 341 là một trong những sư đoàn non tuổi đời nhất so với các sư đoàn kỳ cựu như Sư Đoàn 2, 3, 304, 308, 324, 325, v.v.. Đại Tá Trần Văn Trấn được gọi nắm sư đoàn cuối năm 1973. Trước đó Trấn làm Tư Lệnh Sư Đoàn 1BV và bị quân ta bắt làm tù binh trong năm 1970. Trấn đã khôn khéo dấu tung tích, chỉ khai là nhân viên quân y. Khi Hiệp Định Paris ký kết, hai bên trao trả tù binh, Trấn trở về Bắc và nhanh chóng được giao cho nắm Sư Đoàn 341. Thông thường thì một cán bộ tù binh được trả về Bắc, rất có nhiều triển vọng được các đồng chí Hà Nội cho vô nằm nhà đá đếm lịch, nhưng trường hợp của Trấn lại là ngoại lệ. Tháng 2.1975, Đại Tá Trấn nhận lệnh đưa SĐ 341 vào Nam. Binh đội sư đoàn được 500 chiếc xe vận tải theo đường Hồ Chí Minh vào đến khu vực Quân Khu 7 của cộng quân, bao gồm hầu hết lãnh thổ Quân Khu III của Việt Nam Cộng Hòa. Ở đây, Đại Tá Trấn cùng ban tham mưu của ông ta được lệnh điều nghiên chiến trường Long Khánh, đặc biệt thám sát địa thế thành phố Xuân Lộc, để chờ Sư Đoàn 7 CSBV từ miền Lâm Đồng đổ xuống làm nỗ lực chính cường tập.

Viên phụ tá Tư Lệnh Mặt Trận Long Khánh là Tướng Bùi Cát Vũ chịu trách nhiệm các kế hoạch hành quân của Sư Đoàn 7 Cộng sản Bắc Việt. Tư Lệnh sư đoàn là Lê Nam Phong, biệt danh “Nam Lửa” (Fiery Nam), vì tính khí nóng nảy, người gốc Nghệ An. Sư Đoàn 7 Bắc Việt là một sư đoàn cứng của cộng quân, từng tham dự những trận đánh lớn ở An Lộc, Phước Long. Cho nên nó được chọn làm nỗ lực chính công phá chiến tuyến Xuân Lộc của Thiếu Tướng Lê Minh Đảo. Sau khi tỉnh Ban Mê Thuột của Quân Khu II rơi vào tay địch quân trong đầu tháng 3.1975, thì Tướng Hoàng Cầm đề nghị cho quân đoàn của ông ta đánh tràn xuống Quân Khu III của Việt Nam Cộng Hòa, với sự hỗ trợ của Tư Lệnh Quân Giải Phóng Trần Văn Trà. Nhưng Lê Duẫn, tán đồng ý kiến của Tướng Văn Tiến Dũng, đã ra lệnh cho Sư Đoàn 7 hành quân lên đánh chiếm tỉnh Lâm Đồng, chờ các quân đoàn khác đánh chiếm miền duyên hải Quân Khu II, rồi cùng vào đánh Xuân Lộc. Nhưng sau này, khi Lê Duẫn nhận thấy tình hình quá suy sụp của VNCH, liền lệnh cho Phạm Hùng, Ủy Viên Chính Trị Trung Ương Cục Miền Nam lợi dụng sự hỗn loạn ấy để đánh xuống phía Nam. Vì vậy Sư Đoàn 7 Bắc Việt đang hành quân lên Lâm Đồng nhận lệnh trở xuống Long Khánh. Sư Đoàn 6 cộng quân hình thành từ tháng 8.1974, là sư đoàn nhẹ chỉ có hai trung đoàn được cấu thành từ các đơn vị độc lập trong Quân Khu 7, hoạt động trong quân khu. Tướng Tư Lệnh là Đặng Ngọc Sĩ, từng làm Tư Lệnh Sư Đoàn Đặc Công 27.

Những trận đánh đầu năm 1975

Các đơn vị của Sư Đoàn 6 và 7 cộng quân đã từng giao tranh ác liệt với Sư Đoàn 18 Bộ Binh, Địa Phương Quân & Nghĩa Quân trong khu vực Long Khánh, trong lúc quân dân Quân Khu I và II đang ùn ùn đổ về Quân Khu III, và trước khi nổ ra chiến cuộc Xuân Lộc. Một buổi họp quan trọng giữa Tướng Bùi Cát Vũ, Tướng Lê Đức Anh, Tư Lệnh Phó B2 (Cao Nguyên) và Tướng Lê Nam Phong, Sư Đoàn 7 BV được giao trách nhiệm đánh thông Quốc Lộ 20 từ hướng Bắc quận Túc Trưng đến Phương Lâm. Để làm được điều này, Tướng Nam Lửa phải đánh chiếm cho được quận Định Quán và tiêu diệt Chi Khu. Ngày 17.3.1975 tiếng súng của giặc bắt đầu nổ rền trời Định Quán. Quân cộng đụng phải chiến tuyến rất cứng của các chiến sĩ Địa Phương Quân & Nghĩa Quân trong Chi Khu, với hỗ trợ vòng ngoài của Tiểu Đoàn 2, Trung Đoàn 43, thuộc SĐ18BB, dưới quyền chỉ huy của Thiếu Tá Nguyễn Hữu Chế. Thiếu Tướng Lê Minh Đảo đã cẩn thận gửi tiểu đoàn thiện chiến nhất của ông lên giữ con lộ 20 huyết mạch này. Các chiến sĩ Đại Đội 377 Địa Phương Quân, dù quân số và vũ khí ở thế hạ phong, vì quân giặc quá đông cộng với chiến xa yễm trợ, nhưng đã anh dũng giữ vững được cao điểm bảo vệ Chi Khu trong vòng hai ngày. Chiến sĩ Tiểu Đoàn 2/43 cũng bận rộn chống trả những làn sóng tấn công điên cuồng của địch, nhưng cuối cùng buộc phải rút về một cụm đồi không cao lắm ở hướng tây, cách thị trấn lối vài cây số, một điểm cao nhìn xuống con sông La Ngà. Trung Đoàn 209 BV tiếp tục tấn kích Tiểu Đoàn 2/43. Thiếu Tá Chế cùng chiến hữu giữ vững cao điểm dưới áp lực rất nặng của quân cộng. Thiếu Tá Chế cho hai khẩu pháo 105 ly chúc mũi bắn trực xạ bằng đầu đạn Beehive chống biển người. Trong vòng vây trùng điệp của giặc, tiểu đoàn hao mòn dần.

Vận rủi lại giáng thêm một đòn chí mạng lên chiến sĩ SĐ18BB, khi một chiếc F-5 ném bom lầm lên đầu quân ta. Con số thương vong của tiểu đoàn qua những ngày giao tranh đã lên đến 80 người, Thiếu Tá Chế nghiến răng quyết không nhường một tấc đất cho giặc dù ông có hy sinh trên cao điểm này, nhưng Thiếu Tướng Đảo đã lệnh cho Thiếu Tá Chế dẫn quân về Núi Thị, cao điểm bảo vệ phía Tây Xuân Lộc. Trung Đoàn 209 BV thúc quân đánh tới cầu La Ngà. Thiếu Tá Lầu Vĩnh Quay, chỉ huy Địa Phương Quân gọi pháo binh bắn ngay lên vị trí của ông, giết chết nhiều địch quân, nhưng chiếc cầu La Ngà vẫn lọt vào tay địch. Gần như cùng thời điểm đó, Tiểu Đoàn 3/43 của quân ta trấn giữ quận Hoài Đức bảo vệ Tỉnh Lộ 303 trong tỉnh Bình Tuy cũng bị quân cộng bức thoái. Trong tình hình khẩn trương đó, với Trung Đoàn 48 còn đang hành quân ở Tây Ninh, Trung Đoàn 52 không thể rời khỏi Xuân Lộc, nhận thấy quân ta bị căng mỏng quá mức, Thiếu Tướng Đảo quyết định gọi hai Tiểu Đoàn 1/43 và 4/43 rút quân về bảo vệ Xuân Lộc. Như vậy phần phía Bắc của tỉnh Long Khánh đã lọt vào tay giặc. Sư Đoàn 18 Bộ Binh, từ ngày Thiếu Tướng Đảo về làm Tư Lệnh tháng 4.1972, là một trong hai lực lượng cơ động của Quân Đoàn III (cùng với Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh của Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi) Đông xông Tây đụt, Nam bình Bắc phạt trong phạm vi những tỉnh Long Khánh, Bình Tuy, Phước Tuy, Tây Ninh và tăng viện liên miên cho các sư đoàn bạn. Sức người chiến sĩ có hạn mà cường độ chiến tranh ngày càng nóng đỏ, đến sắt thép cũng phải chảy mềm. Hầu hết các sử gia Hoa Kỳ và phương Tây không hiểu, không biết hoặc không muốn biết người lính QLVNCH đã chiến đấu đến tận cùng khổ ải như thế nào. Thiên kiến trong sách của họ là, quân ta “nhởn nhơ” trong lúc quân Mỹ thiệt mất đến 58.000 người. Hình như họ không dám đưa ra con số 250.000 chiến sĩ QLVNCH tử trận và trên nửa triệu chiến sĩ thương phế, để biện minh cho sự tháo chạy của người Mỹ. Ít nhất thì sử gia Jay Veith đã dành những hàng trân trọng ngợi ca người lính của chúng ta và dành cho các anh một chỗ đứng xứng đáng trong lịch sử.

Song song với hoạt động của Sư Đoàn 7 Bắc Việt, Sư Đoàn 6 BV cũng tấn công các vị trí khác của quân ta dọc theo khu vực Liên Tỉnh Lộ 2 dẫn về phía Nam đến Bà Rịa, đồng thời tấn chiếm các đồn Địa Phương Quân & Nghĩa Quân tại Ngã Ba Ông Đồn và Gia Ray. Vị trí ĐPQ trên Núi Chứa Chan sau hai ngày chiến đấu khốc liệt cũng chịu rút bỏ. Sư Đoàn 6 Bắc Việt tiếp tục áp lực một khu vực dài 50 cây số phía Đông Xuân Lộc theo Quốc Lộ 1 về Bình Tuy. Như vậy, ý đồ của Tướng Hoàng Cầm là cô lập Xuân Lộc với cao nguyên từ hướng Quốc Lộ 20, với tiếp vận và tăng viện từ Sài Gòn trên Quốc Lộ 1 ở phía Nam, và với miền duyên hải Quân Khu II cũng trên QL1 ở phía Đông. Đến ngày 28.3.1975, Sư Đoàn 7 cộng quân quặt lên hướng Bắc tấn công tỉnh Lâm Đồng. Sai lầm chiến thuật này đã buộc quân địch phải trả một cái giá, sau những ngày tháng 3.1975 thắng lợi. Thiếu Tướng Đảo lệnh cho Tiểu Đoàn 2, Trung Đoàn 52, dưới quyền của Đại Úy Huỳnh Văn Út và Đại Đội 52 Trinh Sát tấn công và tái chiếm được Núi Chứa Chan. Khi quân của Đại Úy Út tiến đánh một địa danh gọi là Ngã Ba Cua Heo gây thiệt hại rất nặng cho các đơn vị của Trung Đoàn 270, thuộc Sư Đoàn 341BV, thì dân chúng vùng Kiệm Tân hân hoan đem tặng chiến sĩ SĐ18BB hai con bò và 200.000 đồng để khao quân. Khi nhận được tù binh gửi về, Thiếu Tướng Đảo hết sức sững sốt nhìn những người bộ đội với khuôn mặt sợ hãi, non choẹt ở tuổi thiếu niên. Họ chỉ trong độ tuổi 16, 17, là những học sinh bị bắt vào quân đội huấn luyện qua loa trong vòng hai tuần lễ rồi bị dồn vào Sư Đoàn 341. Qua hai mươi năm chiến tranh, bọn lãnh đạo cùng hung cực ác Hà Nội đã vét tới những người thiếu niên cuối cùng ngoài miền Bắc ném vào lò lửa miền Nam, để thỏa mãn tham vọng điên rồ, là làm cho máu dân tộc chảy láng lênh thành cả một đại dương thãm sầu, xương trắng chất chồng cao dầy như dãy Trường Sơn. Tiếng kêu khóc hai miền vang vọng lên đến chín cõi trời, đến quỷ thần cũng phải rùng mình.

Trích website:
http://www.sudoan18bobinh.com/#/chiendaucuoicung1/4516877456

Xem tiếp:
http://www.sudoan18bobinh.com/#/chiendaucuoicung2/4516877469

TUỔI GIÀ và TUỔI THANH NIÊN của Nguyễn Văn Nu

TUỔI GIÀ và TUỔI THANH NIÊN

Việt Nam sau ngày 30-4-1975, cả nước đặt trong tình trạng dở khóc dở cười: kẻ chiến thắng hoá ra kẻ đi chinh phục, chiếm đất, chiếm nhà, chiếm của, chiếm cả gái tơ nữa! Ngược lại nửa nước Miền Nam bị dày xéo và đọa đày đến mức bùn đen của cuộc sống, vẫn hy vọng ngày mai tươi sáng! Trong niềm hy vọng đó, họ chấp nhận hy sinh bằng mọi giá dù phải chết chóc để vượt thoát khỏi những bàn tay sắt máu của đồng loại Việt cộng “máu đỏ da vàng” mệnh danh là kẻ chiến thắng! Hơn 1.5 triệu người Việt Nam bất khuất đã liều chết ra đi: người may mắn đến bến bờ Tự do; kẻ không may đã làm mồi cho hải tặc, cá biển hoặc thú rừng xanh! Mục đích duy nhất là tìm tương lai cho đàn con đàn cháu!

Đạt được mục tiêu sơ khởi, các Thế hệ Luống tuổi và Đứng tuổi đang đứng trước một cuộc khủng hoảng về sự tiếp nối con đường cứu Dân cứu Nước. Trong đó Thế hệ 1.5, 2, 3 Thanh Thiếu Niên xem ra không tha thiết và quan tâm mấy đến Tổ quốc và Dân tộc Việt nam đang quằn quại dưới ách độc tài toàn trị của Việt cộng! Chúng ta hãy gắng tìm ra nguyên ủy của vấn đề và tự xét xem lý do nào nên nỗi ấy?

Ngày nay toàn thể Quốc dân Đồng Bào Việt nam đang ở trong cảnh phân hoá và mọi giá trị di sản 4,000 năm Văn Hiến đang được các Thế hệ 50, 60, 70 và 80 xét lại. Có bạn than thở:

“Nếu Nguyễn Ánh đừng phái Hoàng tử Cảnh sang Pháp cầu viện thì nước ta đâu phải chịu 100 năm đô hộ giặc Tây!”

“Nếu Bảo Đại không sợ khó sợ khổ, dấn thân hy sinh cho Tổ quốc và Dân tộc Việt nam và thực lòng chống Pháp thì thời điểm sau Đệ II Thế chiến là dịp không bỏ lở mang lại độc lập cho Việt nam không đổ máu!”

“Nếu các vị lãnh đạo các Phong trào, Mặt trận, Đảng phái, Tôn giáo.. cùng những vị mệnh danh lãnh đạo Quốc gia cả 2 Miền Bắc Nam thực sự một lòng Vì Dân Vì Nước, không vì lợi danh nhất thời hay nô lệ ngoại bang bán đứng Đất Nước cho mọi thế lực Quốc tế!” thì Tổ quốc và Dân tộc Việt nam cùng 85 triệu Đồng bào trong nước đâu phải cam chịu cảnh thống khổ chồng chất như hiện tại v.v… !?!?

Lịch sử đã sang trang, những ai đã từng sống và hành động đúng, sai, phải, quấy trong bối cảnh Đất Nước hậu bán thế kỷ 19 và suốt thế kỷ 20 sẽ được các sử gia ghi nhận và phê phán đứng đắn, trung thực làm bài học quý giá cho chúng ta, cho con cháu của Tổ Tiên Lạc Hồng mai sau! Liệu chúng ta có đủ can đảm học những bài học lịch sử đầy máu và nước mắt đó:

- không thống trách, không mạt sát mà chỉ rút ưu khuyết điểm để chúng ta tự vạch ra một con đường tự lực, tự cường chúng ta phải theo hầu đẩy lui mọi mầm mống nô lệ ngoại bang và độc tôn yêu nước (vì Đất Nước là của chung, mọi công dân có quyền và bổn phận như nhau).
Người yêu nuớc, yêu dân, thức thời và tự trọng nên tránh:

- bệnh tự tôn tự đại (không ai có quyền Nhất Thống cả!),
- bệnh mất đoàn kết (vì háu danh, vì ích kỷ sợ người khác có Tài có Đức trên mình),
- bệnh sợ nay mình hy sinh mai kẻ khác hưởng (nên không dám bỏ Công của, Sức lực, Thì giờ, Tiền bạc.. có khi phải hy sinh cả tính mạng nữa ngay ngày hôm nay để cho con cháu mình mai sau được hưởng),
- bệnh nối giáo và làm thân trâu ngựa cho giặc để được miếng đỉnh chung mùi phú quý (đây là những Lê Chiêu Thống, Trần Ích Tắc, Hồ Chí Minh,Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh.. của thời đại nhan nhản như giòi!)..

Những bệnh thời đại này một ngày một hiện rõ ra trên những khuôn mặt luống tuổi hoặc đứng tuổi mà truóc đây đã một thời “oanh liệt”, cứ tưởng mình vẫn còn sáng giá, đắc khách. Nhất là những ai dám tự nhận mình là kẻ có công đuổi Pháp, diệt Phát xít, đập tan Đế quốc xâm lược..!!??

Chúng ta vẫn thường nghe: “Nếu thế hệ già biết nhường chỗ cho thế hệ trẻ.. và thế hệ trẻ biết học hỏi được kinh nghiệm qúy báu của Cha Ông dám dân than, tiến tới thì Tổ quốc và Quốc Dân Đồng bào Việt nam đâu đã phải thống khổ, tụt hậu vào hạng chót thế giới như ngày nay!?” Đó là lời than thở mà ai trong chúng ta nếu thật sự yêu nước yêu dân tộc cũng phải để tâm suy nghĩ, vì sao ra nông nỗi??!! Phải chăng giữa Tuổi Già và Tuổi Thanh Niên đầy nhiệt huyết đã không đến 1 Tụ Điểm nào đó về Tư Tưởng cũng như Hành động? Có lẽ cả 2 thế hệ đã không có sự thông hiểu, đồng cảm nhau mà mỗi phía nói một thứ tiếng nói riêng rẻ chăng?

1.- Về Giới Người Già: Đây chúng ta muốn đề cập đến Giới Luống Tuổi (từ 60, 70 hay 80 tuổi trở lên) và Giới Đứng Tuổi (từ 50 đến 60 tuổi). Cả 2 giới này thường quan niệm rằng:

- Họ là những người từng trải kinh lịch, ít ra họ cũng là nhân chứng hoặc người trong cuộc của một giai đoạn lịch sử hùng tráng hoặc bi thống của Việt nam.
- Họ thường hay tự phụ và tự cho mình là nhất thống không ai sánh bằng.
- Họ coi mình là người có nhiều kinh nghiệm về xử thế hay kinh bang tế thế, tài đức kiêm toàn!

Với những đức tính vừa kể, họ thường xem mình là nhân vật quan trọng(VIP), ra điều là cấp lãnh đạo chỉ huy, ít khi họ nhún nhường, từ đó gây mất đoàn kết, phân hoá, chia rẽ ở những người cùng chiến tuyến! Thái độ như thế là thái độ không nên, vì Giới Già phải nghĩ rằng: “Mỗi thời đại lịch sử sẽ có 1 lớp người của thời đại đó, còn chúng ta là những người đã qua hết giai đoạn của mình với 1 mớ kinh nghiệm sống nên vui vẻ, cởi mở, hợp tác truyền giao lại cho thế hệ con cháu bằng cách chỉ dẫn:

- đâu là chính nghĩa, lý tưởng phục vụ cho 85 triệu người Việt Nam quốc nội,
- đâu là tà mị, nô lệ tác hại lên những thế hệ mai sau!”

Nếu có thể được, chúng ta nguyện sẽ làm những viên gạch lót đường để các thế hệ trẻ học hỏi được kinh nghiệm của Cha Ông tiến lên về mọi mặt:

- Vậy đối với cá nhân, Người Già nên luôn luôn có tâm hồn của Giới Trẻ vui tươi, cởi mở, hợp tác và thích nghi với thời đại mới.

- Trong gia đình, Giới Già nên sống chung với các con cháu để có dịp trao đổi về kiến thức, kinh nghiệm, đạo đức, giềng mối văn hoá… Chính tiếng cười, tiếng hát của đàn cháu chắt sẽ làm cho Quý Cụ, Quý Ông Bà vuỉ vẻ, khoẻ ra, chưa nói tới mặt kinh tế, bệnh hoạn ốm đau thuốc men, ăn uống ai lo, cũng phải nhờ đến giới trẻ!

- Ngoài xã hội, Giới Già nên từ bỏ tính chấp nhất, ích kỷ mà phải độ lượng, khoan dung và sẵn sàng đối thoại, hợp tác, chỉ bảo, đốc thúc giới trẻ học kinh nghiệm tiến lên, dấn thân cho tương lai đại cuộc!

2.-Về Giới Thanh Niên: Không phân biệt Nam Nữ, Giới Thanh Niên đều là rường cột của Tổ quốc, Giống nòi, nên giới này nên luôn luôn hướng về tương lai.

Trước hết phải dốc lòng học hỏi mọi mặt của Cha Ông, Gia đình, Trường học từ Giềng mối Văn hoá Dân tộc, Văn chương, Triết lý, Xã hội đến Khoa học, Kỹ thuật cũng như Mỹ thuật, Điện ảnh… để tạo cho mình một chỗ đứng trong xã hội, ổn định đời sống. Sau giai đoạn sinh tồn cá thể, giờ này Giới Thanh Niên đầy nhiệt huyết nên đi tìm lại quá khứ, bản sắc của chính mình để tự nhận diện xuất xứ, nguồn gốc của Gia đình, Ông Bà, Cha Mẹ là ai, từ đâu đến để sớm huớng về cội nguồn, Tiền đồ Dân tộc Việt Nam.
Muốn được như thế, Giới Thanh Niên không nên từ bỏ quá khứ bản sắc, chối bỏ Cha Ông của mình, trái lại phải lấy làm hãnh diện là con cháu giống Lạc Hồng, Lạc Việt, chấp nhận Gia đình là nơi quy tụ mọi giềng mối văn hoá Tổ tiên Việt nam.

Giới Thanh Niên nên ra công nối tiếp con đường mà Cha Ông mình đã từng mong mỏi: Tổ quốc Việt nam phải sớm thoát khỏi ách thống trị, độc tài, xiếng xích CSVN, 85 triệu Đồng Bào ruột thịt quốc nội phải được Tự do, Ấm no và Hạnh phúc!

Vậy Giới Trẻ nên nhận diện bản sắc mình ở quá khứ, và Giới Già nên cảm nhận được chân giá trị là nhìn về tương lai của đàn con đàn cháu!

“Qua đối thoại và sự tìm hiểu lẫn nhau, thông cảm nhau, chúng ta tin rằng Thế hệ Già Trẻ nên coi nhau như đồng chí, kẻ trước người sau tiến lên hơn là thiếu thiện cảm hay thù nghịch!” như nhận xét của tờ Pacific Asian News.

Nguyễn Văn Nu, cựu TNCTVN 4/2009
(viết từ năm 2000, có sửa đôi chút)

Thursday, July 9, 2009

Phải đập tan ý đồ .....( Đặng thiên Sơn )

Phải đập tan ý đồ
“nhuộm đỏ” Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại của Việt Cộng


Đặng thiên Sơn

Khi ngồi bàn chuyện “chống cộng ” tại hải ngoại nhiều người nói rằng, ngày nay khó biết được ai thật lòng có cùng chung lý tưởng với mình. Điều này đúng chớ không sai. Và vấn đề càng trở thành nhạy cảm hơn, phức tạp hơn khi chung quanh chúng ta có quá nhiều thành phần gọi là “Người Việt hải ngoại”.

Để giải quyết từng cái khó, vấn đề ở đây là làm sao mọi người phải nhận ra được dã tâm của Việt Cộng, phải nhận ra được thành phần nào là người Việt tỵ nạn chân chính, thành phần nào là người Việt tỵ nạn cộng sản trá hình và thành phần nào là người Việt đang sống chung quanh chúng ta thuộc loại nguy hiểm cần phải cảnh giác, cần phải lưu ý tới. Nếu bình tâm giải đáp được từng gút mắc, thì chúng ta mới mong giữ được tuyến chống cộng về lâu về dài. Chớ còn lấp lững, cả nễ, lừng khừng thì tuyến phòng thủ sẽ bị Việt Cộng chọc thủng, dẫn đến thảm họa cho tiền đồ đấu tranh của dân tộc.

Hơn 30 năm qua, đến giờ phút này thì mọi người ai cũng nhìn thấy ý chí phấn đấu, lòng kiên trì chống cộng của người Việt quốc gia hải ngoại. Lẽ đương nhiên Việt Cộng trong nước cũng thấy được điều này và chúng đang tìm đủ mọi cách để tiêu diệt hàng ngũ người Việt quốc gia hải ngoại bằng mọi giá.
Nhìn chung, ai cũng nhìn thấy thành phần người Việt sinh sống tại hải ngoại gồm có:
- Những người tỵ nạn cộng sản chân chính.
- Những người làm kinh tế chớ không phải tỵ nạn cộng sản.
- Những cán bộ Việt Cộng được cài đặt nằm vùng và Việt gian đón gió trở cờ.
- Những du học sinh vừa còn đi học và sau khi tốt nghiệp chương trình học họ tìm đủ mọi cách để ở lại hải ngoại.

Người Việt tỵ nạn cộng sản chân chính, là thành phần có tư tưởng không chấp nhận Chủ Nghĩa Cộng Sản. Họ luôn luôn giữ vững trong lòng căn cước tỵ nạn chính trị và lá cờ vàng ba sọc đỏ là biểu tượng thân thương của đời mình. Thành phần này là Quân - Cán - Chính và một số Dân chúng miền Nam từng sống dưới chế độ tự do Việt Nam Cộng Hòa. Đây là những người có thể nói “không đội trời chung” với bọn Việt Cộng hại dân, bán nước. Họ chính là những nạn nhân trực tiếp hay gián tiếp của Việt Cộng mà bản thân và gia đình đã bị Việt Cộng “đả thương” làm cho sống dở chết dở từ trong cho tới ngoài, từ tư tưởng cho tới tài sản.

Những người vì lý do kinh tế, là những người không có lập trường chính trị. Thời buổi nào cũng vậy, đối với họ chỉ có tiền là trên hết. Chủ nghĩa quốc gia dân tộc, chủ nghĩa cộng sản, tự do, độc tài và cờ máu hôi tanh Việt Cộng hay cờ quốc gia không có gì khác biệt ngoài môi trường thuận lợi cho họ “hốt bạc”. Tại hải ngoại có rất nhiều hạng người này, họ vừa kiếm ăn tại Mỹ vừa đem tiền về đầu tư tại Việt Nam để kiếm thêm.

Thành phần cán bộ Việt Cộng nằm vùng là số đảng viên, cán bộ được giao phó công tác gián điệp từ lâu. Đây là số người đã được đảng và nhà nước VC cài đặt từ trước năm 1975, cho đến ngày nay bọn chúng hoạt động dưới quyền điều động của các Tòa Đại Sứ, Tòa Lãnh Sự VC. Bên cạnh bọn Việt Cộng có thẻ đảng là bọn Việt gian chó săn, chim mồi. Điển hình dễ thấy nhứt là đám người trong cái gọi là “sáu chính đảng”. Bọn người này đã từng là Quân - Cán - Chính và Dân chúng Việt Nam Cộng Hòa nhưng nay đã trở cờ làm tay sai, chạy hiệu cho Việt Cộng .

Cuối cùng là thành phần người ta tưởng rằng không đáng ngại, đang được người thân ùn ùn tìm cách đưa sang vì nghĩ rằng vô tội. Nhưng xét cho cùng, thành phần này hết sức nguy hiểm cho Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Hải Ngoại trong chuỗi dài đấu tranh chống cộng từ bây giờ cho đến về sau. Đó là những du học sinh.
Các Du học sinh Việt Nam có phải là những người trong Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh và họ đang là đối tượng để chuẩn bị vào làm đảng viên đảng Cộng Sản Việt Nam hay chỉ thuần túy là những du học sinh bình thường hay không ? Điều này không quan trọng bằng họ là ai, từ đâu họ xuất hiện trong cộng đồng người Việt hải ngoại.

Du học sinh có nhiều loại, như loại con giòng cháu giống chính thống ba đời của “bác và đảng”, loại dây mơ, rễ má với “bác và đảng”, loại nhân dân “có công với cách mạng”. Tuyệt nhiên trong các du học sinh không có loại con, cháu của “ngụy quân, ngụy quyền”. Cho dù dưới bất cứ hình thức nào cũng không thể phủ nhận “Du học sinh là những người được đảng Cộng Sản Việt Nam ưu đải”. Họ được ưu đải có lý do. Lý do dễ thấy, dễ hiểu nhứt vì họ đã được huấn luyện trong môi trường vừa hồng vừa chuyên ngay từ thời “thiếu nhi quàng khăn đỏ” .

Nhiều người đã vội vả nghĩ rằng đời sống xã hội, sách vở về nhân bản, về tự do, về dân chủ tại hải ngoại là liều thuốc tiên sẽ chuyển hóa tư tưởng các du học sinh. Nên không chóng thì chày thành phần này sẽ “nghiêng” về lập trường tự do, nhân vị con người. Nói một cách khác các du học sinh sẽ ủng hộ Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Hải Ngoại trên phương diện chống cộng, đấu tranh cho một nước Việt Nam không cộng sản. Nhưng bao giờ thì họ “chuyển hóa”. Không ai trả lời được, cũng như số người suy nghĩ như trên đã quên rằng khi lên đường du học, các du học sinh đã được đào tạo, đã được cấy sinh tử phù “Học tập và làm theo gương bác Hồ”. Hơn nữa, liều thuốc chuyển hóa không phù hợp với tâm lý của các du học sinh khi họ đang coi “bác và đảng” là thần tượng trong việc “chống Mỹ cứu nước” và là “ân nhân” của họ. Trong khi ấy, thử hỏi Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Hải Ngoại đã giúp đở gì cho họ khi cha mẹ, anh em, bà con xa, gần của họ đang hưởng những đặc quyền, đặc lợi do đảng Cộng Sản Việt Nam cung cấp. Đây là giá trị thực tế các du học sinh không thể phủ nhận. Cho nên, những ai đặt vấn đề cảm hóa họ là chuyện ảo tưởng, là chuyện mộng mơ. Ngược lại, hình như nhiệm vụ các du học sinh được giao phó nếu không muốn nói là cảm hóa người Việt quốc gia nên quên dĩ vãng, quên quá khứ.

Nếu thấy rằng du học sinh là thành phần nguy hiểm trong CĐNVQGHN, thì chúng ta mới có cái nhìn đúng đắn trong đấu tranh. Với lòng bao dung, người Việt hải ngoại không thù hằn tuổi trẻ. Nhưng vì tiền đồ dân tộc trước hiểm họa xâm lăng của tàu Cộng từ biển cho tới đất liền chúng ta không thể dễ dãi, thờ ơ để cho kẻ thù lợi dụng tuổi trẻ. Cho nên sự sáng suốt, sự can đảm nhìn nhận sự thật để phanh phui tình cảm đúng mức là điều cần thiết. Có như vậy, thì người Việt quốc gia mới ngăn chận được ý đồ nhuộm đỏ cộng đồng người Việt hải ngoại của Việt Cộng.

Với số lượng du học sinh Việt Cộng cho đi ào ạt như hiện nay, đã cho thấy đây là một sự kiện nằm trong chiến lược khống chế CĐVNHN của Việt Cộng. Sự nguy hiểm mà mọi người cần phải quan tâm là du học sinh sống trà trộn trong nhà thân nhân, trường học, nhà hàng, chợ búa, tiệm tạp hóa v.v… được kể là mạng lưới tai mắt của VC. Chúng ta nên nhớ rằng khi cho các cựu tù nhân chính trị ra đi VC đã bắt làm 5,7 thứ giấy cam kết, thì các du học sinh chắc chắn sẽ không tránh khỏi có những ràng buộc chặt chẻ hơn khi sinh mạng của họ nằm trong vòng kiềm chế, kiểm soát, theo dõi và chỉ huy của các Tòa Đại Sứ, Toà Lãnh Sự.

Nếu cứ ngại ngùng, sợ gây ra ngộ nhận, sợ mất lòng để rồi ngậm miệng không dám nói lên những điều cần nói sẽ trở thành vô tình tiếp tay với âm mưu thâm độc của VC. Điều mà chẳng ai muốn. Cho nên nói thẳng để xây dựng, để bảo vệ tiền đồn chống cộng vững mạnh là điều cần thiết.

Chúng ta nghĩ sao, với sự kiện 10 năm gần đây cờ máu Việt Cộng xuất hiện ở những trường học từ trung học cho đến đại học nơi có du học sinh VN theo học. Chúng ta hình dung thế nào, về vai trò của các du học sinh ở những trường học này. Phải chăng đối với những du học sinh thì cờ đỏ sao vàng là biểu tượng thiêng liêng gần gủi với họ, còn cờ vàng ba sọc đỏ là một cái gì xa lạ. Nếu không muốn nói thêm, du học sinh đã được nhồi sọ “cờ vàng ba sọc đỏ là tàn dư xấu xa của Mỹ - Ngụy”!!!...

Đặng thiên Sơn (09 tháng 7/2009)

Trích từ website:
http://www.danviet.de/baiMitMenu.php?bai=1371&LinkIndex=index.php?&vung=&muc=0&AnfPos=0&Auswahl=&Eingabe=&Gr=0&Eb1=0&Eb2=0&Eb3=0&TypEb=&ReiterA=0&ReiterB=0

Xin mời qúy vị đóng góp thêm ý kiến hay email về chúng tôi: luathieng.sydney@gmail.com

THƯ MỜI Tham dự Lễ Khánh Thành TƯỢNG ĐÀI TỴ NẠN

„Tất cả những gì ta có được hôm nay, đều phải trả bằng ngàn vạn đau thương, mất mát.
Hãy trang trọng viết bằng những chữ hoa đẹp nhất trên trang đầu quyển sách đời ta hai chữ: Biết Ơn!“

THƯ MỜI

Tham dự Lễ Khánh Thành TƯỢNG ĐÀI TỴ NẠN tại hải cảng Hamburg

Kính thưa Quý Đồng Hương,
Để biểu lộ niềm tri ân sâu xa đối với việc cứu vớt người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản trên biển Đông của Ủy Ban Cap Anamur và sự tiếp nhận, cưu mang vào quê hương mới của chính quyền và nhân dân Đức, chúng tôi xin trân trọng kính mời Quý Vị đến tham dự buổi lễ khánh thành Tượng Đài Tỵ Nạn tại hải cảng Hamburg sẽ được tổ chức vào ngày

thứ bảy, ngày 12 tháng 9 năm 2009, 13 giờ

tại hải cảng Hamburg, Landungsbrücken,
song song với đường Johannisbollwerk

Trong buổi lễ khánh thành này sẽ có sự tham dự của nhiều yếu nhân và chính khách của chính quyền liên bang cũng như của các tiểu bang.

Vì thế, để tiện việc tổ chức và an ninh, kính xin Quý Vị có mặt tại nơi tổ chức trước giờ khai mạc.

Nếu có thể được, xin quý bà quý cô mặc áo dài Việt Nam trong ngày lễ khánh thành.
Ban Tổ Chức rất hân hoan được tiếp đón Quý Vị trong buổi lễ trọng đại này.

Trân trọng kính mời
Hội Xây Dựng Tượng Đài Tỵ Nạn Hamburg

Chú thích:
* Vì khu vực tổ chức Lễ chỉ có chỗ đậu xe hạn chế, kính xin Quý Vị nên xử dụng phương tiện công cộng như U3, S1 và S3, xuống trạm Landungsbrücken, ngay địa điểm tổ chức.
* Để tạo dịp gặp gỡ sau Lễ khánh thành, ban tổ chức có chuẩn bị một chương trình văn nghệ vào buổi tối cùng ngày do ban nhạc Âu Châu đảm trách, với chương trình “hát cho nhau nghe” và dạ vũ.
bắt đầu từ 19 giờ 00
tại: Karl-Schneider-Halle, Berner Heerweg 183, 22159 Hamburg

Kính mời Quý Vị cùng đến tham dự
Cảng Hamburg : điểm khởi hành của các con tàu nhân đạo Cap Anamur đã cứu vớt 11.300 thuyền nhân tỵ nạn VN ngoài biển Đông đưa về bến bờ tự do và chăm sóc y tế cho 35.000 thuyền nhân VN trong các đảo tỵ nạn tại Đông Nam Á.

Cap Anamur I (9.79-5.82) : cứu vớt 9.507 thuyền nhân VN với 194 ghe
Ngày 26.7.82 cập bến Hamburg với 287 thuyền nhân VN.

Cap Anamur I I (3.86-6.86) : cứu vớt 888 thuyền nhân VN với 18 ghe
Ngày 5.9.86 cập bến Hamburg với 375 thuyền nhân VN

Cap Anamur III (4.87-8.87) : cứu vớt 905 thuyền nhân VN với 14 ghe
Ngày 22.7.87 cập bến Rouen (Pháp) với 229 thuyền nhân VN


Cảng Hamburg chính là nơi xuất phát và trở về của các con tàu nhân đạo Cap Anamur và các vị chủ tàu đều là người Đức đang sinh sống tại Hamburg.
Cảng Hamburg còn là một trong những địa điểm du lịch quan trọng của nước Đức, nơi hàng năm có trên 7 triệu du khách từ khắp nơi trên thế giới viếng thăm, tiếp nhận gần 2 triệu containers hàng hóa và hiện đang được tu bổ, mở rộng để trở thành hải cảng lớn nhất Âu Châu vào năm 2012.




Một biểu tượng của người Việt tỵ nạn CS sẽ được dựng tại cảng Hamburg vào năm 2009 để :

- - tri ân nhân dân, chính quyền Đức và ủy ban Cap
Anamur đã mở rộng vòng tay nhân đạo cứu vớt,
cưu mang và giúp đỡ thuyền nhân VN.
- nói lên chính nghĩa Quốc Gia của thuyền nhân
VN đã liều mình vì lý tưởng Tự Do
- và tưởng niệm những đồng hương đã bỏ mình trên đường tìm Tự Do.

Đó chính là CHÍNH NGHĨA CỦA NGƯỜI VIỆT TỴ NẠN CS ĐƯỢC NÊU CAO NGAY TẠI MỘT ĐỊA ĐIỂM QUỐC TẾ.

Hamburg từ lâu đã được mệnh danh là : Cửa ngõ ra thế giới (Das Tor zur Welt)
Và giờ đây Hamburg còn được gọi là : Cửa ngõ đến tình người (Das Tor zur Menschlichkeit)
Trích từ Website:
http://www.danviet.de/baiOhneMenu.php?bai=17&LinkIndex=index.php?&vung=&muc=5&AnfPos=0&Auswahl=&Eingabe=&Gr=1&Eb1=6&Eb2=0&Eb3=0&TypEb=b&ReiterA=0&ReiterB=0

Thursday, July 2, 2009

Thông Cáo Báo Chí Của Văn phòng Thượng Nghị Sĩ Boxer

Thông Cáo Báo Chí Của Văn phòng Thượng Nghị Sĩ Boxer

Hai TNS Boxer và Brownback dẫn đầu việc kêu gọi Việt Nam thả tự do cho Lm. Nguyễn Văn Lý

Thứ Tư, ngày 1 tháng 7, năm 2009Washington, DC -

Hôm nay, hai TNS Barbara Boxer (Đảng Dân Chủ, California) và Sam Brownback (Cộng Hòa, Kansas), cùng với 35 Thượng Nghị Sĩ khác đã gởi thư đến Chủ tịch Nguyễn Minh Triết và kêu gọi thả tự do cho Cha Nguyễn Văn Lý, một vị chủ chăn Công giáo và cũng là một nhà đấu tranh nhân quyền. Toàn văn lá thư của các TNS như sau:
Ngày 1 tháng 7, năm 2009
Gởi ông Nguyễn Minh Triết
Chủ tịch nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
Nhờ Tòa Đại Sứ Việt Nam tại Washington chuyển thư này

Thưa ông chủ tịch Nguyễn Minh Triết, Chúng tôi gởi đến ông chủ tịch và tập đoàn lãnh đạo Việt nam lòng quan ngại sâu sắc liên quan đến việc giam giữ Vị Linh Mục Bất đồng chính kiến, Cha Thađêo Nguyễn Văn Lý và kêu gọi ông chủ tịch góp sức để bảo đảm việc hành xử có chút tính người và nhất quán với những điều luật mà nhà nước Việt Nam của các ông đã cam kết, cũng như theo công pháp quốc tế mà các ông đã cam kết tuân thủ.

Vấn đề là:

Vào ngày 18 tháng 2 năm 2007, chính phủ Việt Nam đã bắt Cha Lý, một Mục tử Công giáo tại ngay giáo xứ của Ngài ở Huế. Ngay sau đó vào ngày 30 tháng 3 năm 2007, Linh Mục Nguyễn Văn Lý đã bị tòa án của các ông xử án 8 năm tù giam và 5 năm quản chế chỉ vì Ngài Linh Mục khả kính này đã bày tỏ chính kiến một cách ôn hòa cũng như chia sẻ các ý kiến của Ngài với những người khác. Chắc ông chủ tịch cũng dư biết rằng Cha Lý rất nổi tiếng ở Hoa Kỳ qua các hoạt động vì tự do tôn giáo và dân chủ.

Theo thông tin chúng tôi có được từ các tổ chức quốc tế nhân quyền thì việc bắt giam và xử án Linh Mục Nguyễn Văn Lý có nhiều vi phạm vô cùng nghiêm trọng từ phía tòa án của các ông tại Huế. Trong suốt phiên xử chỉ kéo dài 4 tiếng, Cha Lý không có sự trợ giúp pháp lý nào và cũng không được phép bào chữa. Khi Cha Lý định lên tiếng thì một tên an ninh lập tức chận lại bằng cách chụp cả bàn tay lên bịt miệng của Ngài lại và dùng vũ lực áp giải Ngài ra khỏi phòng xử án.

Theo hiến pháp của Việt Nam, và Công ước Quốc tế về Những Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR), mà Việt Nam là một thành viên, thì tất cả mọi công dân đều được hưởng các quyền tự do tôn giáo, tự do bày tỏ chính kiến, tự do phát biểu và quyền được lập hội. Cả hiến pháp của cộng sản Việt Nam các ông và Công ước Quốc tế đều bảo đảm quyền được bảo vệ trước tòa, quyền được biện hộ và trợ giúp pháp lý. Việc bắt, xử và giam giữ Cha Lý đến nay đặt ra câu hỏi là liệu nước cộng sản Việt Nam các ông có tuân thủ những nguyên tắc này không.

Vì những vi phạm vô cùng nghiêm trọng đã nêu, liên quan đến việc bắt giữ, xử án và giam tù Cha Lý, chúng tôi yêu cầu chính phủ Cộng Sản Việt Nam trả tự do ngay lập tức và cho phép Cha Lý trở về trú quán và tiếp tục làm công việc Linh Vụ và Mục Vụ mà không bị ngăn trở, và Ngài Nguyễn Văn Lý phải được phép thực thi quyền tự do bày tỏ ý kiến cũng như quyền lập hội. Ngay lúc này đây, chúng tôi cũng khẩn thiết yêu cầu chính phủ Cộng sản Việt Nam các ông cung cấp cho cộng đồng quốc tế những thông tin liên quan về tình trạng sức khoẻ của Linh Mục Nguyễn Văn Lý.

Cám ơn sự giúp đỡ của ông chủ tịch đối với vấn đề hệ trọng này.

Kính chào
Ký tên:
Barbara Boxer; Sam Brownback; Edward M. Kennedy; Patrick J. Leahy; Richard Durbin; Maria Cantwell; Chuck Grassley; Arlen Specter; Thad Cochran; Saxby Chambliss; Jeff Bingaman; Byron L. Dorgan; Mark Udall; Jon Kyl; Mark Begich; Carl Levin; Ron Wyden; Jim Bunning; Tom Udall; Orrin G. Hatch; Barbara A. Mikulski; Benjamin L. Cardin; Mary L. Landrieu; Johnny Isakson; Edward E. Kaufman; Charles E. Schumer; Evan Bayh; Roland W. Burris; Joseph I. Lieberman; Frank R. Lautenberg; Robert F. Bennett; Debbie Stabenow; Kirsten E. Gillibrand; Herb Kohl; Mike Johanns; James E. Risch; Sherrod Brown.


37 Thượng nghị sỹ Mỹ yêu cầu thả LM Lý

37 Thượng nghị sỹ Mỹ yêu cầu thả LM Lý

Linh mục Lý bị án tù tám năm hồi 2007

Một nhóm 37 Thượng nghị sỹ Hoa Kỳ thuộc cả hai đảng Dân chủ và Cộng hòa vừa gửi thư cho Chủ tịch Việt Nam Nguyễn Minh Triết yêu cầu thả linh mục Nguyễn Văn Lý "ngay lập tức và vô điều kiện".
Họ cũng tìm kiếm thêm thông tin về điều kiện sức khỏe của ông Lý.

Linh mục Lý bị Tòa án Nhân dân Thừa Thiên Huế phạt tù tám năm hồi tháng 04/2007 vì tội Tuyên truyền chống Nhà nước XHCN Việt Nam, theo Điều 88 Bộ Luật Hình sự.

Cùng bị xử với ông tại phiên tòa có bốn nhân vật bất đồng chính kiến khác, lãnh án từ 18 tháng đến sáu năm.
Vụ xét xử và án tù dành cho LM Nguyễn Văn Lý đã gây phản ứng gay gắt từ một số chính trị gia Hoa Kỳ. Thậm chí lúc đó, đã có yêu cầu từ dân biểu Frank Wolf đòi cách chức Đại sứ Hoa Kỳ tại Hà Nội vì không có hành động trong vụ này.

Lá thư chung vừa gửi tới Chủ tịch Triết do hai Thượng nghị sỹ Barbara Boxer thuộc Dân chủ và Sam Brownback thuộc Cộng hòa chấp bút.

Hai Thượng nghị sỹ John Kerry và John McCain không ký tên vào lá thư trên.

Phiên tòa gây tranh cãi

Thư ngỏ của 37 vị Thượng nghị sỹ viết rằng phiên tòa xử LM Nguyễn Văn Lý "sai sót nghiêm trọng", vì ông Lý không được mời luật sư bào chữa.

Thư viết: "Vì có các sai sót nghiêm trọng trong việc bắt giữ, xét xử và bỏ tù ông, chúng tôi yêu cầu (ông Chủ tịch) tạo điều kiện trả tự do cho Cha Lý ngay lập tức và vô điều kiện, cho phép ông được về nhà và hoạt động mà không bị hạn chế về tự do ngôn luận, hội họp và đi lại".

Các Thượng nghị sỹ nhắc lại cam kết của Việt Nam trong việc bảo vệ quyền lợi cho bị cáo tại các phiên tòa như quyền được coi là vô tội khi chưa bị buộc tội, quyền được mời luật sư bào chữa.

"Việc bắt giữ, xét xử và giam cầm Cha Lý đã đặt câu hỏi về cam kết của Việt Nam đối với các nguyên tắc nền tảng này."

Chính phủ Việt Nam chưa có phản ứng chính thức trước lá thư này.

Mới đây, Việt Nam đã cực lực phản đối Hoa Kỳ là "can thiệp nội bộ" sau khi người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ Ian Kelly lên tiếng bày tỏ quan ngại về việc luật sư Lê Công Định bị bắt ngày 13/06 tại TP Hồ Chí Minh.
Linh mục Nguyễn Văn Lý đã bị xử tù ba lần, tổng cộng 14 năm, từ những năm 1970 vì theo đuổi phong trào tự do tôn giáo và dân chủ.

Năm 2001 ông bị tù sau khi kêu gọi Mỹ cân nhắc bỏ cấm vận vì các vi phạm nhân quyền của Việt Nam. Sau đó ông được ân xá năm 2005 trướ ckhi bị bắt lại và bỏ tù năm 2007.
LM Lý là một trong những người sáng lập khối đấu tranh dân chủ 8406.

Theo BBC : http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2009/07/090702_ussenators_letter.shtml